Đừng chủ quan khi thấy mắt con sáng lóe buổi tối

Thấy con có ánh sáng bất thường ở đồng tử nên bố mẹ cho con đi kiểm tra, tại bệnh viện bác sĩ cho biết bé bị ung thư.

Vừa qua, khoa Mắt bệnh viện Nhi Đồng TP.HCM tiếp nhận 1 trường hợp ung thư nguyên bào võng mạc mắt bên phải.

Theo người nhà của bé, trước đó bé hoàn toàn không có bất cứ vấn đề sức khỏe nào, tình cờ người nhà thấy trong mắt phải của bé (con ngươi) ánh trắng đục nên cho bé đi khám mới phát hiện khối u. Sau hơn 1 giờ phẫu thuật, 1 bên nhãn cầu có khối u đã được lấy ra.

Sau khi hội chẩn kết hợp giữa tình trạng lâm sàng và hình ảnh cận lâm sàng cho thấy khối u lúc này đã phát triển khá lớn và bác sĩ phải ra quyết định cắt bỏ nhãn cầu để ngăn chặn sự di căn của khối u. Đây thực sự là một quyết định khiến các bác sĩ vô cùng xót xa vì là cách duy nhất để bảo vệ tính mạng cho bệnh nhân u nguyên bào võng mạc giai đoạn muộn.

Đừng chủ quan khi thấy mắt con sáng lóe buổi tối

Hình ảnh cảnh báo nguy cơ ung thư.

TS BS Phạm Thị Việt Hương – chuyên gia ung thư nhi, Bệnh viện Vinmec Hà Nội cho biết chị tiếp nhận khá nhiều trường hợp bị u nguyên bào võng mạc.

Theo BS Hương bệnh nhân nhi bị u võng mạc chủ yếu ở trẻ nhỏ trung bình 11,6 tháng, tối thiểu phát hiện bệnh ngay khi sinh ra, tối đa gặp 50 tháng t.uổi.

Bệnh thường được mô tả bằng nhiều từ khác nhau như “mắt mèo”, “mắt thú”, “mắt có ánh sáng lập lòe”, “mắt có ánh sáng lấp lánh, rực rỡ”.

Khi nhìn vào mắt bé, cha mẹ thấy có ánh trắng (nhất là vào ban đêm hoặc trong phòng tối vì khi đó đồng tử giãn), cũng có thể thấy 1 hoặc 2 đồng tử màu trắng hay vàng khi chụp ảnh buổi tối có dùng đèn flash. BS Hương cho biết có nhiều trường hợp bố mẹ chụp ảnh cho con thấy bất thường nên cho con đi kiểm tra và kết quả đúng là ung thư nguyên bào võng mạc.

Ngoài ra, biểu hiện khác của u võng mạc đó là mắt của bé bị lé (lác) 34% trường hợp bệnh được phát hiện nhờ dấu hiệu này. Đặc biệt, nếu bé bị lé trong vòng 6 tháng t.uổi thì nên nghi ngờ có u nguyên bào võng mạc. Biểu hiện tiếp theo đó là thị lực kém, mắt đỏ và đau nhức mắt do tăng nhãn áp, viêm màng bồ đào, viêm tế bào hốc mắt, xuất huyết tự nhiên trong t.iền phòng, trong pha lê thể. Đây là các biểu hiện muộn hơn của bệnh.

Để chẩn đoán chính xác u nguyên bào võng mạc, các bác sĩ phải làm giãn đồng tử để soi đáy mắt và khám toàn bộ con mắt. Có thể chẩn đoán nhờ siêu âm, chụp X-quang nhãn cầu. Chụp cắt lớp vi tính rất nhạy cảm với những chỗ canxi hoá là đặc điểm của u nguyên bào võng mạc.

Trẻ mắc bệnh thường có biểu hiện ánh đồng tử trắng ở một hoặc 2 mắt, lác hoặc viêm tổ chức hố mắt. Những khối u nhỏ ở đáy mắt thường có màu trắng xám và có các ổ canxi hoá trắng như phấn. Những khối u kích thước vừa thường dốc hơn và có những mạch m.áu võng mạc giãn ngoằn nghèo nuôi dưỡng khối u.

Quá trình điều trị phụ thuộc vào kích thước, vị trí và bệnh đã lan ra ngoài nhãn cầu hay chưa. Các phương pháp điều trị hiện nay bao gồm nếu khối u nhỏ: có thể điều trị đơn thuần tại mắt bằng laser/nhiệt đông/lạnh đông hoặc đặt đĩa phóng xạ tại vị trí u. Nếu khối u lớn: hóa chất tĩnh mạch toàn thân hoặc tiêm hóa chất nội động mạch kết hợp với điều trị tại chỗ.

Cắt bỏ nhãn cầu khi khối u lớn, có nguy cơ xâm lấn di căn cao. Cần xem kết quả giải phẫu bệnh để điều trị hóa chất bổ trợ.

Nếu khối u đã di căn ra ngoài nhãn cầu cần phối hợp hóa trị với cắt bỏ nhãn cầu/nạo vét tổ chức hốc mắt và xạ trị hốc mắt.

TS Hương nhấn mạnh nếu được phát hiện và điều trị sớm, bệnh có thể chữa khỏi. Kết quả điều trị bệnh nhân có u nguyên bào võng mạc ở trong hố mắt là xem tỷ lệ sống sót theo thời gian, khống chế bệnh trong một mắt có u đồng thời với việc giữ được thị lực.

Tỷ lệ chữa khỏi có nghĩa là khống chế được bệnh trong mắt có u và bảo tồn được thị lực hữu ích, với kết quả sau 5 năm như sau: Giai đoạn I: 91%, Giai đoạn II: 83%, Giai đoạn III: 81%, Giai đoạn IV: 62%, Giai đoạn V: 29%.

Nhận biết viêm màng bồ đào

Viêm màng bồ đào nếu không đươc phat hiên, điêu tri kip thơi thi biên chưng đê lai cho măt rât nghiêm trong, nó co thê gây đuc thuy tinh thê, tăng nhan ap, thâm chi teo nhan câu, dẫn đến nguy cơ bi mu loa rât lớn.

Màng bồ đào co 3 phân, đó là môngmăt, thê mi va màng mạch. Đây là nơi chứa nhiều mạch m.áu, bao gồm các tĩnh mạch và động mạch đưa m.áu nuôi dưỡng mắt. Viêm màng bô đao là tình trạng viêm sưng của 1 trong 3 các bô phân nêu trên.

Tùy thuộc vào vị trí bị tổn thương mà người ta chia thành 3 loại sau:

Viêm màng bồ đào trước (viêm mống mắt – thể mi): Là dạng phổ biến nhất chiếm khoảng 3/4 các trường hợp viêm màng bồ đào. Bệnh hay tái phát thành từng đợt, nếu không điều trị tốt có thể gây tăng nhãn áp và mù lòa vĩnh viễn.

Viêm màng bồ đào giữa (chủ yếu là phía sau của thể mi): Các triệu chứng khá nghèo nàn, thường nhìn thấy mờ kèm theo hiện tượng ruồi bay trước mắt.

Viêm màng bồ đào sau: Thường viêm mặt sau của mắt, viêm màng mạch, võng mạc gây tổn thương dây thần kinh thị giác, gây hạn chế tầm nhìn cho người bệnh.

Trong một số trường hợp, viêm màng bồ đào có thể ảnh hưởng đến toàn bộ phần trước và sau của mắt gọi là viêm màng bồ đào toàn bộ.

Đừng chủ quan khi thấy mắt con sáng lóe buổi tối

Viêm màng bồ đào có thể gây ảnh hưởng đến thủy tinh thể, võng mạc, các dây thần kinh thị giác.

Nguyên nhân gây viêm màng bồ đào

Viêm màng bồ đào có thể phát triển do một vài nguyên nhân như: N.hiễm t.rùng mắt; Chấn thương hoặc sau phẫu thuật mắt; Rối loạn hệ thống miễn dịch: thường gặp trong các bệnh viêm khớp dạng thấp, đa xơ cứng, tiểu đường type 1, bệnh HIV,… Một số bệnh ung thư, chẳng hạn ung thư hạch rất hiếm gặp nhưng cũng có thể gián tiếp gây tổn thương mắt.

Dấu hiệu nhận biết

Các triệu chứng có thể xuất hiện đột ngột hoặc diễn biến âm thầm trong thời gian kéo dài và chỉ phát hiện được khi khám mắt định kỳ.

Các triệu chứng bao gồm: Đau nhức mắt là triệu chứng thường gặp nhất. Cơn đau có thể xuất hiện âm ỉ hoặc đột ngột và đau tăng lên khi bạn tập trung sự chú ý vào một điểm nào đó. Mắt bị đỏ là biểu hiện của quá trình viêm do các mạch m.áu bị sung huyết.

Thị lực bị giảm sút, cảm giác như bị một màn sương mờ che phủ trước mắt. Người bệnh có thể nhạy cảm với ánh sáng (sợ ánh sán g). Hiện tượng ruồi bay trước mắt: Bạn có thể nhìn thấy những dấu chấm đen, hoặc những bóng mờ di chuyển trước mắt khi mắt đang nhìn yên tại một điểm.

Mất thị lực ngoại vi là khả năng nhìn sự vật và sự chuyển động của sự vật bên ngoài đường đi của thị lực bị giảm sút. Đồng tử có hình dạng khác nhau hoặc không thể thu nhỏ khi phản ứng với ánh sáng. Ngoài ra còn có các biểu hiện toàn thân có thể gồm: sốt nhẹ, ăn không ngon miệng, ngủ kém, đau đầu,…

Viêm màng bồ đào nếu không được điều trị tích cực sẽ để lại các biến chứng như: Giảm thị lực, theo thống kê có đến hơn 10% người bệnh viêm màng bồ đào sau đó bị hạn chế về tầm nhìn.

Quá trình viêm ngăn chặn sự tiêu thoát nước do tăng áp lực bên trong mắt có thể dẫn đến bệnh glaucom. Ngoài ra còn có rất nhiều biến chứng khác như phù hoàng điểm, bong võng mạc và có thể dẫn đến mù lòa.

Điều trị viêm màng bồ đào

Tùy theo mức độ của bệnh và từng cá nhân mà các bác sĩ sẽ có chỉ định điều trị thích hợp. Trong đó có các phương pháp như điều trị bằng nội khoa: Việc quyết định sử dụng thuốc nào sẽ phụ thuôc vào nguyên nhân gây bệnh. Một số thuốc khác nhau có thể được lựa chọn như: thuôcchông viêm steroid dạng thuốc uống, nhỏ mắt, tiêm; thuốc điều trị n.hiễm t.rùng chủ yếu là các loại kháng sinh; thuốc kháng virus; thuốc giảm đau nhóm NSAIDs.

Đối vơimôt sô trương hơp diên biên bênh xâu hơn, đa bi viêm nhiêm năng hoặc bệnh tái đi tái lại lam anh hươngđên thi lưc, sư dung thuôc không có hiệu quả thi cần phải can thiệp bằng phẫu thuật.

Để phòng tránh viêm màng bồ đào, cần ăn uống hợp vệ sinh để tránh nhiễm ấu trùng giun, sán; Không rửa mặt bằng nguồn nước ô nhiễm; Bảo vệ mắt bằng kính khi tiếp xúc với môi trường khói bụi. Đến ngay các cơ sở chuyên khoa về mắt để khám và điều trị kịp thời khi có các dấu hiệu của bệnh.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *